Công Trình‎ > ‎

Photon


"Ánh Sáng sẽ không bao giờ đuổi kịp Bóng Tối đâu. Vì khi Ánh Sáng chưa đến nơi, Nó đã ở đó trước rồi"

Bài viết này diễn giải để ta có một cái nhìn đơn giản nhất về một khái niệm không mới nhưng vẫn còn rất mơ hồ trong lãnh vực vật lý này
Khi đặt ra khái niệm photon, ta quan niệm photon là phần tử mang năng lượng nhỏ nhất của ánh sáng (hay bức xạ điện từ) ứng với một tần số (hay bước sóng) xác định
Ta có thể gọi photon là một hạt có kích thước và khối lượng (biểu kiến) xác định và đặc biệt có thể chuyển động trong chân không so với mọi hệ quy chiếu với một vận tốc không đổi mà không bất cứ một loại vật chất mang thông tin nào khác có thể chuyển động nhanh hơn là  
Ta gọi kích thước của photon là trùng với bước sóng ánh sáng mà nó mang
Khối lượng biểu kiến của photon là (Chú ý photon có khối lượng nghỉ bằng 0)


Xét một photon chuyển động xuất phát từ một gương phẳng đến gương phẳng thứ hai đặt song song cách gương thứ nhất một đoạn AB
Ta xét hai trường hợp khi hai gương đứng yên và hai gương chuyển động đều với vận tốc  so với hệ quy chiếu đứng yên

Khi gương đứng yên, thời gian photon đi từ gương thứ nhất sang gương thứ hai là

 

Khi gương chuyển động, photon không đi từ A đến B mà đi từ A đến vị trí mới của gương thứ hai là B' với vận tốc vẫn là . Thời gian gương chuyển động từ A đến A' bằng thời gian photon chuyển động

 

Theo Pythagore


 



Tức là thời gian trôi đối với gương trong hai trường hợp đứng yên và chuyển động là khác nhau. Đây chính là sự co Lorentz
Nếu gọi bước sóng của photon trong hai trường hợp trên lần lượt là  và 
Ta có



Theo định luật bảo toàn khối tâm




Bình phương và đạo hàm hai vế ta được






Chính là hệ thức liên hệ năng lượng - khối lượng nổi tiếng
Giả thiết rằng photon là một chất liệu đàn hồi khi đó giữa hai đầu photon xuất hiện một lực đàn hồi 
Lực  cân bằng với lực ly tâm gây ra bởi một vật nặng khối lượng  quay quanh tâm của photon với vận tốc  và bán kính 


Giả sử một photon là một dao động tử mang xung lượng  ứng với một li độ dao động  
Giản đồ sự phụ thuộc giữa  và  là một hình elip



 

 

Hai trục lớn nhỏ của elip lần lượt là

 

Với  

Do diện tích elip không đổi (Bảo toàn không gian pha)

Vậy photon mang một gói năng lượng đơn vị tỉ lệ với tần số của nó thông qua hằng số Planck bằng   với  
Nếu ta xếp nối tiếp  photon dọc theo trục  với 

 
Năng lượng đàn hồi gây bởi các cặp photon này là


 

 

Chính là lực đàn hồi gây ra giữa hai đầu Một photon
Giả sử photon là một sợi dây dao động mà khối lượng trên một đơn vị chiều dài dây là 
Khi dây dao động xuất kiện lực căng dây 


Vận tốc truyền sóng trên dây là  và vận tốc dao động của dây là . Góc hợp của dây với phương ngang tại điểm dao động là  nhỏ

 

 

 

 

 



Ta kết luận Photon là một sóng dừng điện từ
Ta xét hàm  tùy ý với giá trị trung bình của  của đại lượng ngẫu nhiên  trong trường hợp phân bố gián đoạn

 

Với  là xác suất biến cố xảy ra
Trong trường hợp phân bố liên tục


Với  là hàm phân bố xác suất
Trị trung bình dựa vào hàm phân bố chưa chuẩn hóa


Trị trung bình của đại lượng 

 

Nếu gọi  là hàm phân bố đã chuẩn hóa



Do đó







 


Xác suất 

 


Ta xét sự biến thiên của số phân tử không khí theo độ cao. Một khối phân tử khí được đặt trong một gia tốc trọng trường  . Sự chênh lệch áp suất giữa các lớp khí làm mật độ phân tử khí bị phân bố lại. Gọi khối lượng riêng chất khí là , khối lượng mol chất khí là , khối lượng một phân tử khí là 

 

 

 



 

 

Ta gọi đây là công thức Phong Vũ Biểu

 

 

Ta gọi phân bố trên là phân bố Maxwell-Boltzmann với  là hằng số Boltzmann
Từ hai bài toán trên ta có thể coi năng lượng của một phân tử khí trung bình trong phân bố Boltzmann khi năng lượng phân bố liên tục theo trục z là 
Nếu ta coi dao động của các phân tử khí là các dao động tử điều hòa tắt dần với biên độ dao động giảm dần theo thời gian


Do biên độ giảm dần theo quy luật hàm mũ
Nên năng lượng dao động đàn hồi cũng giảm theo quy luật phân bố Boltzmann

 

 

Với  là hệ số đàn hồi,  là độ nhớt của môi trường,  là biên độ dao động cực đại
Ta xét mật độ nội năng   của khối vật chất (Vật đen tuyệt đối) mang nhiệt độ cân bằng 





 

 

 

 


Ta gọi đây là định luật Stefan - Boltzmann với  là hằng số Stefan - Boltzmann
Xét một hộp rỗng hình hộp chữ nhật có các cạnh lần lượt là 


Ta đục một lỗ nhỏ để ánh sáng chui vào trên hộp và ánh sáng bị hấp thụ hoàn toàn sau vô số lần phản xạ, lúc đó hộp đạt trạng thái cân bằng nhiệt. Ta có thể coi mô hình trên là một vật đen tuyệt đối


Ánh sáng truyền trong hộp có bước sóng bất kỳ. Điều kiện để có sóng dừng

 

 

 

Số sóng dừng trung bình có trong khoảng  

 



Tích phân biến góc, nhân với số phân cực độc lập và năng lượng trung bình cho một bậc tự do ta suy ra mật độ năng lượng

 
Với  là sự phân bố số hạt photon theo năng lượng và  là hàm phân bố
Một sóng dừng có thể xem là một bậc tự do dao động. Dựa vào công thức ta tính trị trung bình của năng lượng của một bậc tự do. Nếu hàm phân bố  tuân theo phân bố Maxwell-Boltzmann tức là năng lượng được phân bố liên tục với các giá trị tùy ý. Khi đó photon được phân bố giống như chất khí lý tưởng trong trường trọng lực là lúc đó năng lượng trung bình một bậc tự do sẽ là

 

 

Mật độ năng lượng toàn phần lúc này tuân theo đường màu đen của đồ  thị bên dưới. Phân bố năng lượng như trên ta gọi là định luật Rayleigh - Jeans

 
 
Ta thấy điều này là vô lý. Như vậy phân bố của các hạt photon không tuân theo phân bố cổ điển Maxwell-Boltzmann


Để giải được bài toán trên ta phải giả thiết gọi là giả thiết Planck rằng năng lượng ứng với mỗi tần số bức xạ là không liên tục mà là số nguyên lần một lượng tử   xác định
Năng lượng của mỗi phân cực độc lập là gián đoạn và bằng  
Khi đó


Ở đây  với 


Mật độ năng lượng toàn phần lúc này tuân theo đường màu xanh của đồ  thị bên trên

 thỏa mãn định luật Stefan - Boltzmann (với   là hằng số Planck rút gọn)

Nếu  ta thu được công thức Rayleigh - Jeans

Nếu 

Đạo hàm lên để tính cực đại mật độ năng lượng theo  ta thu được

 

Tức là tần số tại đó mật độ năng lượng cực đại tỉ lệ với nhiệt độ cân bằng. Ta gọi đây là định luật dịch chuyển Wien
Ta xét lực tương tác giữa photon và vật chất



Chính là sự phụ thuộc xung lượng vào bước sóng De Broigle. Tương tác sóng hạt cho ta thấy Sóng làm Hạt có tính Sóng và Hạt làm Sóng có tính Hạt
Mẫu hành tinh nguyên tử Bohr đối với nguyên tử Hydro


Nguyên tử Hydro gồm một hạt nhân mang điện tích dương và một electron mang điện tích âm quay xung quanh hạt nhân
Tần số quay của electron quanh hạt nhân là . Khi quay e gây ra  photon mang tần số . Các photon này xếp dọc với nhau quanh quỹ đạo của e tạo thành một sợi dây đàn hồi giữ e ổn định trên quỹ đạo 
Năng lượng gây bởi các photon đúng bằng năng lượng chuyển động ly tâm của e

 

Mặt khác lực ly tâm cân bằng với lực điện


Vậy  với  là hằng số cấu trúc tinh tế

Năng lượng toàn phần trên quỹ đạo của e là


Khi thay đổi quỹ đạo từ   đến  thì e phát xạ một photon mang năng lượng

 
Với  là hằng số Rydberg

Ta xét hiện tượng nhiễu xạ sóng phẳng



Chia khe hẹp a thành N dải có bề rộng 


Độ lệch pha giữa hai dải nhỏ lân cận 


Mỗi dải này gây ra tại điểm P trên màn một cường độ điện trường bằng nhau và bằng 
Độ lệch pha giữa hai dải ở đỉnh và đáy của khe hẹp a là








Khi  Thì cường độ điện trường tổng tại P vẽ lên một dây cung tạo bởi các vector cường độ điện trường nhỏ có độ lệch pha tương ứng liên tiếp bằng nhau




Cường độ sáng tại P


      


Do 

Khi  là cực đại giữa

Khi  là cực tiểu nhiễu xạ



Xét hàm xung


Biến đổi Fourier cho ta biết biên độ theo miền thời gian của hàm xung





Xét cường độ điện trường gây bởi một photon có thể tích  tại vị trí cách photon một đoạn 


 

Năng lượng của photon là







Tức là mật độ năng lượng điện trường bằng mật độ khối lượng nhân với 
Áp suất gây bởi photon

 (Thỏa)

Công suất phát xạ năng lượng điện từ

 

Cường độ phát xạ điện từ là

 

Năng lượng phát xạ trong một đơn vị thời gian là

 

Trong thời gian đó số photon được phát xạ là

 

Xác suất tìm thấy photon là


Điều kiện chuẩn hóa của hàm sóng

 

Mặt khác

 

Chia hai vế cho nhau

 

Biên độ của hàm sóng là

 

Hàm sóng của photon


Hàm sóng miêu tả bó sóng




Khi pha sóng truyền từ vị trí (x, t) sang vị trí (x+dx, t+dt) mà vẫn bảo toàn


Ta thấy điều ở trên vô lý nên vận tốc u không phải là vận tốc di chuyển của vật chất hay thông tin mà chỉ là vận tốc truyền của pha sóng ta gọi là vận tốc pha
Tại vị trí trên bó sóng mà biên độ dao động không đổi



 chính là vận tốc truyền của tâm bó sóng hay chính là vận tốc di chuyển của vật chất liên kết với bó sóng ta gọi là vận tốc nhóm





Ta để ý các đại lượng biểu diễn pha của bó sóng trong những thí dụ ở trên



 (Thỏa)

Đối với photon 

(Thỏa)



Góc lệch của cực đại giao thoa trong hiện tượng nhiễu xạ là

 

 hay  vì 

Chứng minh theo cách khác


Ta xét hai trường bước sóng trải trên một đường thẳng và bước sóng cuộn lại thành một vòng tròn. Khi đó bước sóng sẽ trở thành bước sóng rút gọn


Nếu ta thay chiều dài tương tác bằng một nửa của bước sóng rút gọn thì



Nên   

Chính là phát biểu chính xác của nguyên lý bất định Heisenberg
Trong trường hợp này tương tác giữa photon và vật chất là va chạm mềm tức là cần có thời gian va chạm  nên năng lượng không bảo toàn
Ta xét hiệu ứng Casimir. Khi đặt hai tấm kim loại để cạnh nhau trong chân không hoàn toàn, giữa hai tấm kim loại xuất hiện một năng lượng sinh ra lực có xu hướng đẩy hai miếng kim loại sát vào nhau

Năng lượng ở giữa hai tấm kim loại


Với khoảng cách giữa hai tấm là 
Năng lượng chân không bên ngoài là



Tiến hành nhân với đại lượng đặc trưng phân bố  để tiến hành phép đổi biến Fourier



 

 

Chính là lực Casimir. Bản chất của lực này chính là do nguyên lý bất định, sự bất định về không gian gây ra sự bất định về thời gian và tạo ra năng lượng
Ta xét hiện tượng giao thoa

Công thức tính khoảng vân (khoảng cách giữa hai vân sáng liên tiếp)

 
Ta thấy khoảng vân chính là kích thước phóng to của bước sóng theo tỉ lệ 
Ta lý giải thuyết tương đối và thuyết lượng tử dựa trên hình ảnh của lý thuyết dây. Nếu ta coi đường trắc địa (đường truyền) của ánh sáng là một sợi dây. Khi đường này vẫn còn là một sợi dây thẳng thì nó vẫn còn là ánh sáng thuần túy. Nhưng nếu nó thắt lại thành một sợi dây kín nó sẽ biến thành vật chất thuần túy

Ta xét hai trường hợp ánh sáng truyền thẳng với vận tốc c trong thời gian   và ánh sáng truyền vòng qua một dây bán kính R cũng với vận tốc c và tiếp tục đi thẳng mất thời gian  
Vì phải đi vòng qua dây nên ánh sáng di chuyển sẽ bị trễ một khoảng thời gian là  
Thời gian trễ này gây ra một năng lượng theo nguyên lý bất định là


Chính là khối lượng của dây
Ta so sánh thời gian khi dây (vòng tròn) di chuyển với vận tốc v so với hệ quy chiếu đứng yên. Khi đó kích thước vòng dây giảm từ R xuống r

Thời gian vòng dây đi từ A đến B với vận tốc v bằng thời gian ánh sáng đi từ D đến C

 

Thời gian ánh sáng đã di chuyển dọc vòng dây khi nó thay đổi kích thước là


Theo Pythagore


 

 

Thỏa mãn sự co Lorentz trong thuyết tương đối

Ta thấy khi  dây sẽ trở nên không có kích thước và biến thành ánh sáng

[Phụ Lục I: Tại sao thời gian chỉ trôi một chiều?


Nếu thời gian và vũ trụ là tĩnh tại và không giãn nở thì sóng ánh sáng có thể truyền từ điểm xuất phát (hiện tại) tới cả hai chiều quá khứ và tương lai với vận tốc c. Nhưng theo thuyết Big Bang thì thời gian có điểm xuất phát và vũ trụ đang giãn nở nên sóng ánh sáng truyền từ hiện tại về quá khứ bị triệt tiêu bởi sóng ánh sáng đang giãn nở đi tới trước của vũ trụ. Giống như kiểu ánh sáng muốn truyền về quá khứ nhưng bị đẩy về hiện tại vậy. Do đó thời gian chỉ truyền được một chiều tới tương lai mà thôi.

Phụ lục II: Kỷ nguyên Planck. Giới hạn mà tại đó tất cả các định luật vật lý bị phá vỡ

Năng lượng hấp dẫn tại chân trời sự kiện của lỗ đen cân bằng với năng lượng của ánh sáng mà nó hút vào. Từ đó ta suy ra bán kính lỗ đen


Theo nguyên lý bất định ở khoáng cách  gây ra năng lượng

 

Từ đó ta suy ra bán kính và khối lượng Planck


Thời gian Planck

 

Năng lượng Planck lúc này là

 

Nhiệt độ Planck

 

Từ năng lượng điện trường Planck ta suy ra điện tích Planck


Phụ lục III: Số ảo là gì?

 <=> Số âm = Số dương <=> Hình vuông = Hình tròn <=> Không phân biệt được <=> Đui <=> Nhà bị cúp điện



Ta xét sự co Lorentz trong thuyết tương đối hẹp. Chiều dài vật thể khi chuyển động so với đứng yên là 


Nếu v<c thì R là số thực vì Ro là thực. Nhưng nếu v>c tức vật chuyển động nhanh hơn ánh sáng và v/c>1. Dấu biểu thức trong căn là âm. Căn của số âm chỉ có thể là số ảo.

Thay  vào thì . Phương trình luôn có nghiệm. Hay R là ảo khi v>c. 

Nhưng trên thực tế không có bất cứ vật thể nào nhanh hơn ánh sáng được mà chỉ có vật thể đứng trước ánh sáng. Tức là vật đứng trong vùng ko gian ánh sáng chưa kịp truyền tới gọi là Bóng Tối. Hay số ảo để miêu tả Bóng Tối. Nơi hoàn toàn không chứa (hoặc bị ẩn) cả thông tin và vật chất, là một không gian ảo. Không gian chúng ta đang sống là không gian phức với trục thực là thế giới thực và trục ảo là thế giới chìm trong Bóng Tối, thế giới Ánh Sáng chưa chiếu tới được. Việc hàm sóng là mang ý nghĩa quỹ đạo phức liệu nó có cho thấy vật chất tồn tại trong một thế giới phức. Một thế giới đo được (thấy được) và một không thể đo vì không chứa thông tin. 
Không gian ảo tạo ra thời gian ảo, thời gian ảo tạo ra năng lượng ảo theo nguyên lý bất định. Là năng lượng Tối
Việc chúng ta không thể xác định chính xác được thực tại (sự bất định) do một phần thông tin của thực tại bị chìm trong thế ảo không thể đo được. Nếu có một phương pháp xác định được chính xác tọa độ của vật thể trong mặt phẳng không gian phức trên cả hai trục thực và ảo của thế giới phức thì có thể đó được chính xác hoàn toàn mọi thông số của thực tại vật chất. Lúc đó nguyên lý Bất Định biến mất và tất cả trở thành Tất Định
Trong thí nghiệm nhiễu xạ để kiểm nghiệm nguyên lý bất định về lưỡng tính sóng hạt. Hay trong hiệu ứng Compton về tính hạt của Ánh Sáng, Ánh Sáng chiếu vào vật thể để đo vị trí và xung lượng của vật. Nhưng khi đo một trong hai thông tin đó bị chìm vào vùng Bóng Tối mà vật đã che mất của Ánh Sáng chiếu tới. Thông tin đo bị mất đi và sự Bất Định xảy ra
Một ứng dụng khá phổ biến của số ảo là để giải bài toán dòng điện xoay chiều
Trong mạch gồm điện trở, cuộn cảm và tụ điện thì chỉ có trở kháng là đại lượng thực có ý nghĩa vật lý. Còn dung kháng và cảm kháng không có ý nghĩa vật lý của sự cản trở dòng điện mà chỉ mang tính tượng trưng cho liên hệ vi tích phân giữa dòng và thế
Nên được gán vào đại lượng ảo của tổng trở phức 
Dòng điện trong mạch kín RLC là dao động điều hòa tắt dần. Dao động của sóng điện từ trong không gian cũng là dao động điều hòa tắt dần
Nếu ta gán số ảo cho Bóng Tối hay Chân Không ta có thể viết một phương trình có mối tương quan giữa dao động mạch RLC và sự lan truyền sóng điện từ để hiểu được giá trị ảo của Chân Không 
Từ đó tìm ra cái gọi là dung kháng hay cảm kháng của chân không hay điện trở của ánh sáng chẳng hạn
Nếu giải được thì vấn đề năng lượng Tối sẽ được giải quyết êm thắm


 

Nên

 





Diễn giải đơn giản. Có một cái thước dài một đoạn a. Nhưng một đoạn của nó bị chui trong tối không cách nào đọc được chỉ đọc được tới vạch b ngoài sáng, còn vạch chui trong tối dài c (bị ẩn không thấy). Lúc đó chiều dài thước bị gán là độ dài phức  . Ta kéo dần cái thước ra ánh sáng một đoạn d thì b tăng lên đoạn d còn c giảm đi d . Khi kéo cái thước ra ngoài sáng hoàn toàn . Số phức biến thành số thực. Đó là ý nghĩa của số ảo, là Bóng Tối. Chẳng có gì là ảo hay bất định cả, chỉ là nó bị che mất trong tối không nhìn thấy thôi
Nói thêm về Thuyết Số Phận. Phía trước là Bóng Tối nên ai cũng phải mò đường đi. Nhưng cũng như con Sư Tử rình mồi. Nó đã nhắm ai thì chui ra bắt bằng được. Tức là số chọn ta chứ ta không có chọn được số. Còn chạy thoát được ko thì tùy năng lực con Nai


Xét hai vector trong hệ tọa độ Decartes có tọa độ lần lượt là  và 
Tích vô hướng của hai vector


Với  là các vector đơn vị

Ta xét một chùm bóng tối song song bề rộng 2b chiếu đối xứng lên mặt cầu trong mặt phẳng phức
Xét số phức


và số phức liên hợp là

 

Ta có

 chính là bình phương biên độ phức

Xét phương trình vi phân


Phương trình có nghiệm


Thế 

Xét dải băng thông thường và dải băng Möbius có diện tích bề mặt là S
Đối với dải băng thông thường là mặt hai phía có hai véctơ pháp tuyến trái dấu nhau nên tổng véctơ diện tích hai mặt là

 


Đối với dải băng Möbius là mặt một phía nên véctơ pháp tuyến sau khi quét một vòng bề mặt dải băng sẽ đổi dấu mà không đi qua biên



Vậy ta có thể nói dải băng Möbius chính là mô tả hình học của phương trình số ảo Euler


Áp dụng công thức tính công bội

 

Ta có



Phụ lục IV: Từ Tích, Tư Tưởng hay Thế Vector


Ta thấy từ thông xuyên qua một mặt đóng luôn luôn bằng 0 chứng tỏ luôn luôn tồn tại lưỡng cực từ để từ trường đi từ cực từ này sang cực từ kia vào và ra xuyên qua mặt đóng. Tức là không tồn tại Đơn Cực Từ hay Từ Tích
Tuy nhiên nếu cho một dòng điện chạy qua một dây dẫn được uốn theo dạng vòng tròn Borromean (Có dạng Topo không tầm thường) như hình vẽ ở trên thì đường sức từ trường gây bởi dây dẫn sẽ có xu hướng chỉ đi ra hoặc đi vào mặt đóng. Tức là từ thông qua mặt đóng sẽ khác 0 từ đó sẽ làm xuất hiện Từ Tích hay Đơn Cực Từ

YouTube Video



Phương trình Maxwell được viết lại


   

thành  với M là "Mật độ dòng từ"

Điều này giải thích cho Topo không tầm thường của Chân Không trong thí nghiệm Aharonov-Bohm. Ta thấy hình dạng của Topo này nếu biểu diễn cho đường trắc địa của đường truyền tia sáng thì nó vừa giống đường tròn (Vật chất) vừa giống đường thẳng (Ánh sáng) và đó chính là Tư Tưởng.

YouTube Video


Nếu ta coi photon là các "hạt" nhựa nhỏ rơi từ một khe xuống như clip ở trên thì các cục chắn đường rơi của hạt nhựa chính là sự phân bố các topo không tầm thường của chân không làm hạt nhựa chuyển động ngẫu nhiên giống như hiện tượng nhiễu xạ và từ đó tạo ra tính "sóng" của photon. Hay nói một cách khác chính tính chất topo không tầm thường của chân không tạo ra lưỡng tính sóng hạt 
Các hạt khác màu là các hạt cùng kích thước nhưng khác khối lượng. Cũng giống như các photon cùng biên độ nhưng khác bước sóng


Nếu thí nghiệm là hai khe ta có hiện tượng giao thoa như clip ở bên dưới

YouTube Video


Dưới đây là ví dụ về không gian 6 chiều Calabi-Yau có Topo không tầm thường nổi tiếng trong lý thuyết dây



Phụ lục V: Không gian tuyến tính n chiều

Nếu ai hỏi không gian 4 chiều là gì thì nó là khối Tesseract này nhé. Cứ 8 đỉnh gần nhau tạo ra Một hình hộp 3 chiều thì Khối 4 chiều này tạo thành từ 8 hình hộp 3 chiều 




2^0=1 điểm 0 chiều
2^1=2 đầu đoạn thẳng 1 chiều
2^2=4 đỉnh hình vuông 2 chiều

2^3=8 đỉnh hình hộp 3 chiều
2^4=16 điểm của khối Tesseract 4 chiều
...
2^n=...

Phụ lục VI: Bản chất của chuyển động

Ta xét hàm sóng tại tọa độ x=0

 

 

 

 

Đặt  

 Ta có  chính là vận tốc pháp tuyến và vận tốc tiếp tuyến thông thường của chuyển động 

    hai khái niệm vận tốc này không dộc lập mà liên hệ với nhau thông qua đơn vị ảo i

Ta xét sự co Lorentz của không thời gian trong thuyết tương đối. Chính chuyển động làm cong không thời gian

 



Ta thấy quan hệ tương hỗ giữa chuyển động tiếp tuyến và pháp tuyến chỉ là ảo tức là chuyển động thực v của chúng ta là

 

Tức là chúng ta không hề chuyển động mà chính sóng không thời gian đã đẩy chúng ta đi trong Vũ Trụ

 

Hay  từ đó suy ra quan hệ của nguyên lý bất định

Phụ lục VII: Sự sụp đổ của Hàm Sóng


Một Photon mang hàm sóng   từ xa tới tương tác với một khối Vật Chất bị tán xạ lại trở thành Photon khác mang hàm sóng 
Ta có 

 

 

Tại thời điểm va chạm  

Sóng phản xạ ngược pha với sóng tới cho nên 

Theo sự chồng chập của hàm sóng



Điều này biểu diễn cho sự co rút của Hàm Sóng. Cho thấy Thực Tại Khách Quan là hiển nhiên và được định hình bởi cái gọi là đo đạc


(To Be Continued...)




Comments